GelekDorjee
read my profile
sign my guestbook

Visit GelekDorjee's Xanga Site!

Message: message me


Member Since: 5/21/2007

SubscriptionsSites I Read
vanhanh
chidokuzukito

Blogrings
thuyloveyouallifyouwantbethentalktomeok
previous - random - next


Posting Calendar

|<< oldest | newest >>|
view all weblog archives

Get Involved!

Suggest a link

Recommend to friend

Create a site


Sunday, July 06, 2008

Happy His Holiness the Dalai Lama's Birthday‏



His Holiness the Dalai Lama was born on 6 July 1935, and named Lhamo Thondup, to a poor family in the small village of Taktser in the province of Amdo. The name, Lhamo Thondup, literally means Wish-Fulfilling Goddess. Taktser (Roaring Tiger) was a small and poor settlement that stood on a hill overlooking a broad valley. Its pastures had not been settled or farmed for long, only grazed by nomads. The reason for this was the unpredictability of the weather in that area, His Holiness writes in his autobiography Freedom in Exile. During my early childhood, my family was one of twenty or so making a precarious living from the land there......   



Gang ri ra wä kor wäi zhing kham dir
Phän dang de wa ma lü jung wäi nä
Chän rä zig wang tän dzin gya tsho yi
Zhab pä si thäi bar du tän gyur chig
Nơi miền núi tuyết vây quanh
Có suối nguồn an lạc của mọi sự tốt lành;
Là bậc tối thắng Quan Thế Âm, Tenzin Gyatso,
Xin Thầy ở lại cõi thế
Cho đến khi tận diệt luân hồi.




Saturday, June 21, 2008

Homage to the twenty-one Taras




Homage to the twenty-one Taras

OM je tsun ma pag ma drol ma la chag tsal lo

OM I prostrate to the noble transcendent liberator.

1. Chag tsal drol ma nyur ma pa mo

Homage to Tara swift and fearless

Chen mi kay chig lhog dang dra ma

With eyes like a flash of lightning

Jig ten sum gon chu kye shel gyi

Lotus-born in an ocean of tears

Ke sar je wa lay ni jung ma

Of Chenrezig, three world�s protector.

2. Chag tsal ton kay da wa kun tu

Homage to you whose face is like

Gang wa gya ni tseg pay shel ma

One hundred autumn moons gathered

Kar ma tong trag tsog pa nam kyi

And blazes with the dazzling light

Rab tu che way o rab bar ma

Of a thousand constellations.

3. Chag tsal ser ngo chu ne kye kyi

Homage to you born from a gold-blue lotus

Pay may chag ni nam par gyen ma

Hands adorned with lotus flowers

Jin pa tsun du ka tub shi wa

Essence of giving, effort, and ethics,

So pa sam ten cho yul nyi ma

Patience, concentration and wisdom.

4. Chag tsal de shin sheg pay tsug tor

Homage to you who crown all Buddhas

Ta yay nam par gyal wa cho ma

Whose action subdues without limit

Ma lu pa rol chin pa tob pay

Attained to every perfection

Gyel way say kyi shin tu ten ma

On you the bodhisattvas rely.

5. Chag tsal TU TA RA HUM yi ge

Homage to you whose TUTTARE and HUM

Do dang chog dang nam ka gang ma

Fill the realms of desire, form and space

Jig ten dun po shab kyi nen te

You crush seven worlds beneath your feet

Lu pa may par gug par nu ma

And have power to call all forces.

6. Chag tsal gya jin may lha tsang pa

Homage to you adored by Indra,

Lung lha na tsog wang chug cho ma

Agni, Brahma,Vayu and Ishvara

Jung po ro lang dri sa nam dang

Praised in song by hosts of spirits,

No jin tsog kyi dun ne to ma

Zombies, scent-eaters and yakshas.

7. Chag tsal TREY che cha dang PEY kyi

Homage to you whose TREY and PEY

Pa rol tul kor rab tu jom ma

Destroy external wheels of magic

Yay kum yon kyang shab kyi nen te

Right leg drawn in and left extended

May bar tug pa shin tu bar ma

You blaze within a raging fire.

8. Chag tsal TU RE jig pa chen po

Homage to you whose TURE destroys

Du kyi pa wo nam par jom ma

The great fears, the mighty demons

Chu kye shel ni tro nyer den dze

With a wrathful frown on your lotus face

Dra wo tam che ma lu so ma

You slay all foes without exception.

9. Chag tsal kon chog sum tson chag gye

Homage to you beautifully adorned

Sor mo tug kar nam par gyen ma

By the Three Jewel�s gesture at your heart

Ma lu chog kyi kor lo gyen pay

Your wheel shines in all directions

Rang gi o kyi tsog nam trug ma

With a whirling mass of light.

10. Chag tsal rab tu ga wa ji pay

Homage to you, radiant and joyful

U gyen o kyi treng wa pel ma

Whose crown emits a garland of light

Shay pa rab shay TU TA RA yi

You, by the laughter of TUTTARA

Du dang jig ten wang du dze ma

Conquer demons and lords of the world.

11. Chag tsal sa shi kyong way tsog nam

Homage to you with power to invoke

Tam che gug par nu ma nyi ma

The assembly of local protectors

Tro nyer yo way yi ge HUM ki

With your fierce frown and vibrating HUM

Pong pa tam che nam par drol ma

You bring freedom from all poverty.

12. Chag tsal da way dum bu u gyen

Homage to you with crescent moon crown

Gyen pa tam che shin tu bar ma

All your adornments dazzling bright

Rel pay tro na o pag may lay

From your hair-knot Amitabha

Tag par shin tu o rab dze ma

Shines eternal with great beams of light.

13. Chag tsal kel pay ta may may tar

Homage to you who dwells in a blazing wreath

Bar way treng way u na ne ma

Like the fire at the end of this age

Yay kang yon kum kun ne kor gay

Your right leg outstretched and the left drawn in

Dra yi pung ni nam par jom ma

Joy surrounds you who defeats hosts of foes.

14. Chag tsal sa shi ngo la chag gi

Homage to you whose foot stamps the earth

Til gyi nun ching zhab gyi dung ma

And whose palm strikes the ground by your side

Tro nyer chen dze yi gay HUM ki

With a wrathful glance and the letter HUM

Rim pa dun po nam ni gem ma

You subdue all in the seven stages.

15. Chag tsal de ma gay ma zhi ma

Homage to the blissful, virtuous, peaceful one

Nya ngen de zhi cho yul nyi ma

Object of practice, nirvana�s peace

SO HA OM dang yang dag den pay

Perfectly endowed with SOHA and OM

Dig pa chen po jom pa nyi ma

Overcoming all the great evils.

16. Chag tsal kun ne kor rab ga way

Homage to you with joyous retinue

Dra ye lu ni nam par gem ma

You subdue fully all enemies� forms

Yi gay chu pay ngag ni ko pay

The ten-letter mantra adorns your heart

Rig pa HUM lay drol ma nyi ma

And your knowledge-HUM gives liberation.

17. Chag tsal TU RE zab ni dab pay

Homage to TURE with stamping feet

HUM gi nam pay sa bon nyi ma

Whose essence is the seed-letter HUM

Ri rab man da ra dang big je

You cause Merus, Mandara and Vindya

Jig ten sum nam yo wa nyi ma

And all three worlds to tremble and shake.

18. Chag tsal lha yi tso yi nam pay

Homage to you who holds in your hand

Ri dag tag chen chag na nam ma

A moon like a celestial lake

TA RA nyi jo PEY kyi yi gay

Saying Tara twice and the letter PEY

Dug nam ma lu pa ni sel ma

You dispel all poisons without exception.

19. Chag tsal lha yi tsog nam gyal po

Homage to you on whom the kings of gods

Lha dang mi am chi yi ten ma

The gods themselves and all spirits rely

Kun ne go cha ga way ji kyi

Your armour radiates joy to all

Tso dang mi lam nyen pa sel ma

You soothe conflicts and nightmares as well.

20. Chag tsal nyi ma da wa gye pay

Homage to you whose eyes, the sun and moon,

Chen nyi po la o rab sel ma

Radiate with pure brilliant light

HA RA nyi jo TU TA RA yi

Uttering HARA twice and TUTTARA

Shin tu dag po rim ne sel ma

Dispels extremely fearful plagues.

21. Chag tsel de nyi sum nam ko pay

Homage to you, adorned with three natures

Zi way tu dang yang dag den ma

Perfectly endowed with peaceful strength

Don dang ro lang no jin tsog nam

You destroy demons, zombies and yakshas

Jom pa TURE rab chog nyi ma

O TURE, most exalted and sublime!

Tsa way ngag kyi to pa di dang

Thus the root mantra is praised

Chag tsal wa ni nyi shu tsa chig

And twenty-one homages offered.


Saturday, May 24, 2008

 

Giới Bồ Tát – 18 Giới Nặng

 

 

 

 

Giới là vật thể vô hình cực kỳ vi tế nằm trong dòng tâm thức, có khả năng tác động lên thái độ hành xử của con người. Nói cụ thể hơn, giới là tránh không làm những hành động phá hoại (ví dụ như sát sinh), hay giới là những điều Phật dạy để giúp đệ tử đạt mục tiêu nhất định (ví dụ như không ăn sau bữa trưa để tâm được thanh tịnh trong sáng trong các buổi thiền khuya hay sáng sớm).

Phát tâm bồ đề có hai giai đoạn, giai đoạn ước muốn phát bồ đề tâm, và giai đoạn dấn thân phát tâm bồ đề. Giai đoạn sau mới thật sự là lúc thích hợp để nhận bồ tát giới.

Nhận bồ tát giới là phát nguyện giữ mình không để phạm những việc làm gây cản trở cho hạnh tu. Những việc làm tiêu cực này được phân ra thành 18 giới nặng và 46 giới nhẹ, là lời khuyên của đức Phật dành cho người muốn tu hạnh bồ tát để đạt giác ngộ vì lợi ích chúng sanh.

§        18 giới nặng, nếu vi phạm là phá giới, toàn bộ giới pháp trong tâm thức bị phá hủy.

§        46 giới nhẹ là những việc làm nên tránh tối đa.

Phá giới là mất hết trọn vẹn bồ tát giới. Phá giới làm cho tâm thức sa đọa, công phu tu hành thoái chuyển, tạo nhiều chướng ngại cản trở tầm khai mở của tâm thức. 18 giới nặng là những hành động cần triệt bỏ. 18 giới nặng cùng 46 giới nhẹ là tất cả những gì phải tránh nếu thật sự muốn việc làm của mình đủ khả năng tạo lợi ích cho chúng sinh.

Cuối thế kỷ thứ 10, vị cao tăng Ấn độ Atisha [A Ðề Sa] nhận bộ giới bồ tát này từ sư phụ là ngài Dharmamati Suvanadvipa. Sau đó, Atisha ghi lại gốc tích của bộ giới này trong bộ Shikshasamuccaya rồi truyền sang Tây tạng. Giới Bồ tát của mọi tông phái Phật giáo Tây tạng hiện nay đều thuộc bộ giới này, không hoàn toàn giống với giới bồ tát của hệ Phật giáo Trung Hoa.

Giới nhận rồi, đời này qua đời khác vẫn còn không mất. Vật thể vi tế này sẽ đi theo hành giả cho đến khi thành Phật. Giới pháp lấy tâm làm thể, tâm vô tận nên giới vô tận[1]. Nếu kiếp trước nhận giới mà kiếp này không biết, lỡ vi phạm, thì giới vẫn còn, trừ phi vi phạm sau khi đã nhận lại giới  trong kiếp này. Mỗi đời mỗi nhận lại giới, sẽ bồi đắp thêm năng lực của giới pháp, khiến tâm càng lúc càng thêm dũng mãnh tinh tấn, lớn mạnh không ngừng. Vì vậy các  thầy Ðại thừa đề cao sự giữ giới thanh tịnh, sao cho khi nhắm mắt giới vẫn giữ được tròn vẹn. Ðược như vậy, khi vào kiếp sau, giới vẫn còn đó, tiếp tục tích lũy công đức trong thời gian chưa nhận lại giới.

Sau đây là mười tám giới bồ tát nặng, bốn năng lực phá giới, bốn năng lực sám hối.

 

{

 

18 Giới Bồ Tát Nặng

(1)    Khen mình, chê người

vì muốn được lợi, được khen, được yêu thích chiêm ngưỡng vân vân, hoặc vì ganh ghét. Dù nói thật hay nói dối cũng đều phạm giới như nhau.

(2)    Không san sẻ tiền tài, Phật pháp

vì tham ái hay keo bẩn, muốn giữ hết cho riêng mình.

(3)    Không nhận lời xin lỗi của người khác, đánh mắng người khác

vì nóng giận mà đánh hay mắng người khác, xin lỗi hay lời can đều bỏ qua tai.

(4)    Từ bỏ chánh pháp Ðại thừa, sáng lập tuyên dương môn phái mới.

có nghĩa là từ bỏ giáo pháp và giới pháp Ðại thừa, dựng một hệ thống giáo lý mới thay vào, tự cho đó mới là chánh pháp, quảng bá rộng rãi để dụ dỗ tín đồ.

(5)    Xâm phạm cúng phẩm dành cho Tam Bảo.

hoặc đích thân lấy hoặc nhờ người khác lấy dùm,

(6)    Từ bỏ chánh pháp

dùng lời chê bai hoặc nói điều gì khiến người khác sinh tâm phỉ báng giáo pháp của thanh văn, duyên giác, hay giáo pháp đại thừa, cho đó không phải là lời Phật dạy. Thanh văn là những người nghe giáo pháp Phật dạy trong thời Phật còn tại thế, còn duyên giác là những vị sống trong thời kỳ đen tối khi Phật pháp không còn, nên phải dựa vào trực giác đến từ công phu tu học có từ tiền kiếp để tu hành. Thanh văn và duyên giác thừa gọi chung là "Tiểu thừa" [hinayana], dẫn đến giải thoát luân hồi cho cá nhân một người. Ðại thừa nhấn mạnh vào phương pháp thành tựu vô thượng bồ đề. Hoặc chê bai phủ nhận một phần hay toàn bộ Tiểu thừa , hoặc chê bai phủ nhận một  phần hay toàn bộ Ðại thừa, cả hai thái độ trên đều là phạm giới.

(7)    Bất kính với Tăng sĩ  - chiếm đoạt phương tiện tu của Tăng sĩ -

 vì ác ý mà gây hại cho tăng ni, bất kể trình độ tu học, giới hạnh hay chứng ngộ của vị ấy, ví dụ như đánh đập, hiếp đáp, tịch thu vật dụng, trục xuất ra khỏi chùa (trừ trường hợp theo đúng luật mà trục xuất tăng sĩ phạm bốn trọng giới là sát sinh, trộm cắp, dối trá và dâm dục).

(8)    Phạm năm nghiệp vô gián

là giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm đổ máu thân Phật, chia rẽ Tăng đoàn.

(9)    Chấp thủ tà kiến - giữ thói tranh cãi

ví dụ như phủ nhận quả báo, qui y, luân hồi, giải thoát v.v. và tranh cãi xung đột với người tin vào đó

(10)  Phá hoại môi trường sống của chúng sinh

ví dụ như cố tình phá hủy, dội bom, làm ô nhiễm làng phố đô thị hay thôn quê hoang dã,  tạo khó khăn cho sự sống còn của con người và sinh vật cư ngụ nơi ấy.

(11)  Dạy tánh không cho người chưa sẵn sàng

dạy tánh Không mà khiến người nghe từ bỏ tâm bồ đề để theo đường tu giải thoát cá nhân, hay khiến người nghe từ bỏ Phật pháp cho rằng Phật pháp hoàn toàn vô nghĩa.

(12)  Khiến người khác từ bỏ tâm Ðại thừa

nói với người đang tu hạnh bồ tát là họ không thể thành tựu, tốt hơn nên tu hạnh thanh văn để giải thoát cho bản thân trước đã. Nếu họ nghe theo là mình phạm giới. Nếu họ không nghe theo, thì giới vẫn còn.

(13) Khiến người khác từ bỏ giới Ba la đề mộc xoa [Pratimoksha]

nói với người nhận giới ba la đề mộc xoa [giới luật dành cho 5 thành phần: phật tử tại gia, Thức xoa ma ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Tỷ kheo, Tỷ kheo ni] rằng bồ tát không cần giữ giới ba la đề mộc xoa, vì hành động của bồ tát toàn là thanh tịnh. Nếu họ nghe theo thì  mình phạm giới. Nếu không nghe theo thì giới vẫn còn.

(14)  Khinh rẽ Thanh Văn thừa

Giới thứ sáu là phỉ báng thanh văn thừa, không chấp nhận là chánh pháp. Ở đây tuy chấp nhận thanh văn thừa là chánh pháp, nhưng lại cho rằng tu theo pháp này không triệt bỏ được phiền não.

(15)  Mạo nhận mình chứng Không tánh.

vì ganh ghen với các bậc thầy có chứng ngộ, nên khi giảng dạy về tánh Không tuy bản thân chưa chứng mà mạo nhận mình đã chứng. Làm như vậy dù người nghe có lầm tin hay không thì giới vẫn phạm. Tuy vậy, người nghe phải hiểu lời giảng, nếu không giới vẫn còn. Chưa chứng mà giảng về tánh Không thì không sao, nhưng không được mạo nhận mình đã chứng.

(16)  Nhận tài vật đánh cắp từ Tam bảo.

Giới 5 nói về sự xâm phạm cúng phẩm dành cho Tam bảo. Giới 16 là khi có người xâm phạm cúng phẩm dành cho tam bảo rồi đưa cho chúng ta làm quà, cúng phẩm, lương hay tiền thưởng vân vân, nếu chúng ta nhận tài vật ấy thì đó là phạm giới.

(17)  Thiên vị bất công với người có tâm tu học

vì sân mà khinh thường người tu học nghiêm chỉnh, vì tham ái  mà thiên vị người tu học kém nghiêm chỉnh. Ví dụ làm thầy mà dành hết thì giờ cho đệ tử giàu sang có khả năng cúng dường rộng rãi và bỏ bê đệ tử nghèo có tâm tu học,

(18)  Từ bỏ Bồ đề tâm

Nghĩa là từ bỏ tâm nguyện cầu thành Phật vì lợi ích của chúng sinh.

 

 

{


Bốn năng lực phá giới

Có hai giới, giới thứ 9 (chấp thủ tà kiến) và giới thứ 18 (từ bỏ bồ đề tâm), hễ phạm là giới bị phá hủy,  mất hết trọn giới bồ tát trong tâm thức.

16 giới còn lại giới chỉ bị phá hủy nếu khi phạm hội đủ bốn yếu tố sau đây:

1. Không hối hận, thấy phạm giới chỉ  lợi chứ không hại.

2.  Phạm giới thành thói quen, không muốn ngưng tái phạm.

3.  Cảm thấy thỏa mãn vui vẻ khi phạm giới.

4.  Mất lòng tự trọng, không biết hổ thẹn khi phạm giới.

Thiếu một trong bốn yếu tố này thì chỉ phạm giới, không phá giới. Tuy giới vẫn còn, nhưng năng lực sẽ yếu hơn.

 

{

 

Bốn năng lực sám hối

Khi lỡ phạm giới hay phá giới, có bốn điều có thể giúp sám hối, lấy lại giới:

1. Biết hối hận

2. Quyết chí muốn sửa đổi

3. Qui y Tam bảo, phát bồ đề tâm.

4. Làm những gì cần phải làm để hàn gắn những việc do lỗi lầm mình gây ra.

 

 

{

 

 

 

 

 

 


 

Alexander Berzin: The Root Bodhisattva Vows, Modified, March 2002, available at http://www.berzinarchives.com/vows/root_bodhisattva_pledges.html

 

Hồng Như lược dịch tháng 03 năm 2004

 

Mọi sai sót là của người dịch, mọi công đức xin hồi hướng pháp giới chúng sinh

 




[1] câu này lấy Kinh Anh Lạc bổ túc .


Giới Bồ Tát – 46 Giới Nhẹ

 

Giới Bồ Tát – 46 Giới Nhẹ

 

 

Bồ tát giới ngoài 18 giới nặng còn 46 giới nhẹ, chia thành 7 cụm, là những việc gây trở ngại cho mỗi hạnh trong Sáu hạnh ba la mật [Thí Giới Nhẫn Tấn Ðịnh Tuệ] và cho tâm địa vị tha, lợi lạc chúng sinh.

46 giới này cần tránh tối đa. Tuy vậy, nếu lỡ phạm, dù hội đủ bốn năng lực phá giới, giới vẫn chưa bị phá hủy. Tuy vậy, ít phạm giới nhẹ thì đường tu sẽ thuận tiện hơn. Nếu lỡ phạm, cần sám hối và áp dụng bốn năng lực sám hối, tương tự như khi phạm giới căn bản.

46 giới phụ này có nhiều ngoại lệ. Nhìn chung yếu tố quan trọng nhất là động cơ hành động. Nếu phạm giới vì dửng dưng, biếng nhác hay đễnh đoảng, kết quả tuy tệ nhưng không tệ bằng phạm vì bị phiền não [tham sân si mạn] tác động. Lại có nhiều giới tuy phạm vì phiền não tác động, nhưng nếu quyết tâm sửa đổi thì cũng không phải là phạm giới.

[Xin đọc thêm về giới bồ tát, bốn năng lực phá giới và bốn năng lực sám hối trong Giới Bồ Tát - 18 Giới nặng.]

{

Bảy việc tạo trở ngại cho hạnh Thí ba la mật:

Thí ba la mật (sbyin-pa, Skt. dana) là thái độ tự nguyện muốn san sẻ. Hạnh này bao gồm (a) san sẻ tiền tài [tài thí], (b) san sẻ Phật pháp [Pháp thí], và (c) san sẻ sự không sợ hãi [vô úy thí].

Muốn hạnh Thí được toàn vẹn, cần tránh những việc làm sau đây:

2 việc liên quan đến tài thí cần tránh:

(1)    không cúng dường Tam bảo qua ba cửa Thân Miệng Ý.

vì kém vui, biếng nhác, dửng dưng mà không dùng thân, miệng và ý cúng dường Phật Pháp Tăng mỗi ngày sáu lần. Tối thiểu là lạy với thân, tán dương với miệng, và nhớ nghĩ về tánh đức của Tam bảo.

(2)    chạy theo thỏa mãn giác quan.

vì tham, thiếu thiểu tục hỉ túc, để tâm đuổi theo khoái cảm như hình đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon vân vân.

2 việc liên quan đến vô úy thí cần tránh

(3)    Không kính nhường người trên

vì kiêu ngạo, sân hận, khinh mạn, biếng nhát, dửng dưng hay lơ đễnh, để người lớn hơn mình trong hoàn cảnh khó khăn, không thể tự xoay trở.

(4)    Không trả lời người có thắc mắc

vì kiêu ngạo, giận dữ, ác ý,  biếng nhát, dửng dưng hay lơ đễnh, làm lơ không trả lời cho câu hỏi chân thành, để người hỏi trong trạng thái băn khoăn và hoang man, không biết hướng về đâu.

2 việc liên quan đến hạnh thí của người khác cần tránh:

(5)    từ chối không nhận lời mời của người khác

vì kiêu ngạo, giận dữ, ác ý, biếng nhác, hay dửng dưng, không nhận lời mời thọ thực của người khác để họ mất cơ hội thu thập công đức.

(6)    từ chối không nhận phẩm cúng dường

vì kiêu ngạo, giận dữ, ác ý, biếng nhác, hay dửng dưng, không nhận phẩm cúng dường của người khác để họ mất cơ hội thu thập công đức.

1 việc liên quan đến Pháp thí cần tránh:

(7)    vì sân si, không san sẻ Phật Pháp cho người khác

- Giới căn bản thứ hai: không san sẻ vì tham lam keo bẩn

- Giới nhẹ thứ bảy: không san sẻ là vì giận dữ, mê muội, sợ người hơn mình, làm biếng hay dửng dưng.

 

Chín việc tạo trở ngại cho hạnh Giới ba la mật

Giới ba la mật (tshul-khrims, Skt. shila) là tự chế, không để mình làm những việc ác, đồng thời làm hết những việc lành.

Trong 9 việc gây trở ngại hạnh Giới, có bốn việc liên quan đến người khác, ba việc liên quan đến chính mình, và 2 việc liên quan đến cả hai.

Bốn việc liên quan đến hoàn cảnh của người khác, cần tránh:

(8)    bỏ bê người phạm giới

vì giận dữ, ác ý, làm biếng, dửng dưng, hay lơ đễnh, làm ngơ bỏ bê khinh rẻ người phạm giới.

(9)    không giữ uy nghi giới hạnh, khiến người khác mất lòng tin nơi Phật pháp.

vì xem thường giới pháp của Phật, vì thiếu tự chế, hay biếng nhác, làm những việc kém uy nghi, khiến người khác nhìn vào mất lòng tin nơi Phật pháp.

(10) vì cố chấp giữ giới, bỏ quên lợi ích của người khác.

nếu cố chấp vào giới nhẹ nên bỏ qua không làm việc lợi lạc cho người khác thì phạm giới này.

(11) vì lòng từ bi, cần phạm trọng nghiệp để cứu người mà không chịu phạm.

Trong trường hợp khẩn thiết, không còn cách nào khác hơn là phạm bảy điều bất thiện liên quan đến thân và miệng để cứu người mà không chịu phạm. Bảy việc bất thiện là (a) sát sinh, (b) không cho mà lấy, (c) tà dâm, (d) nói lời dối trá,  (e) nói lời chia rẻ, (f) nói lời thô ác, (g) nói lời vô ích. Làm những việc này không vì tham sân si, ý thức rõ về nhân quả, tình nguyện gánh quả địa ngục để cứu giúp người khác. Ðược vậy hạnh Giới sẽ không bị trở ngại.

Ba việc liên quan đến hoàn cảnh của chính mình, cần tránh:

(12) sinh sống bằng nghề bất thiện

là những nghề đòi hỏi phải (a) dối trá; (b) dùng lời gạt gẫm người (c) đe dọa, tống tiền, khiến người khác mang mặc cảm tội lỗi; (d) gán tội cho người để thu tiền phạt vạ (e) đút lót để được lợi lớn hơn.

(13) sôi nổi say đắm với điều vô bổ

vì thiếu tâm ít muốn biết đủ, vì buồn chán, kích động, ham vui, chạy theo những thú vui vô bổ. Làm như vậy khiến tâm tán loạn, phóng dật, hại đến hạnh Giới.

(14) không thấy giải thoát luân hồi là cần thiết

Giới căn bản thứ mười tám:không còn muốn giúp đỡ toàn thể chúng sanh.
Giới nhẹ thứ mười bốn ở đây: vẫn muốn giúp chúng sinh, nhưng hiểu sai lời khế kinh nói về lời nguyện ở lại luân hồi không thành Phật của bồ tát, cho rằng luân hồi không cần giải thoát, phiền não không cần đoạn diệt.

Hai việc liên quan đến chính mình và người, cần tránh:

(15) không chịu tránh hành vi gây tiếng lời thị phi

Làm những việc khiến người khác mất tin tưởng, sanh tâm dị nghị.

(16)  không khuyên ngăn hành vi sai trái của người bị phiền não tác động

là người có quyền trong gia đình, sở làm, trường học, chùa chiền, nếu có người gây rối loạn cho không khí sinh hoạt chung mà mình vì thiên vị hay vì muốn mua chuộc tình cảm không chịu trách phạt, ngăn chận hành động sai quấy của người ấy, làm như vậy sẽ phạm giới này.

 

Bốn việc tạo trở ngại cho hạnh Nhẫn ba la mật

Nhẫn ba la mật (bzod-pa, Skt. kshanti) là nhẫn nại (a) với người gây hại cho mình, (b) với khó khăn trên đường tu,  và (c) với khổ đau của chính mình. Tu Nhẫn ba la mật cần tránh bốn việc làm sau đây:

 (17) bỏ qua bốn pháp tu tích cực

bốn pháp tu tích cực là không chống trả (a) khi bị người mắng chửi; (b) khi thành mục tiêu cho người trút cơn giận dữ (c) khi bị đánh đập (d) khi bị sỉ nhục.  Không giữ bốn pháp tu này sẽ làm tổn hại hạnh nhẫn.

(18) không cố gắng làm nguôi cơn giận của người vì mình mà nổi giận

vì kiêu ngạo, ác ý, ganh ghét, biếng nhác, dửng dưng hay bất cần, để người khác kết tụ hờn giận, không cố gắng giải tỏa dùm người.

(19) không nguôi giận dù người xin lỗi.

Giới căn bản thứ ba: không nguôi giận khi người xin lỗi lúc việc đang xảy ra.
Giới nhẹ thứ mười chín: xin lỗi khi việc đã xảy ra, cơn giận đã kết tụ lại trong lòng.

(20) nuôi tâm giận dữ, không chịu cố gắng buông thả cơn giận.

 

Ba việc tạo trở ngại cho hạnh Tấn ba la mật

Tấn ba la mật, hay là Tinh tấn ba la mật (brtson-grus, Skt. virya), là tinh tấn vui vẻ làm tất cả những việc lành. Tu Tinh tấn ba la mật cần tránh ba việc làm sau đây:

(21)  tìm người theo mình vì muốn được tôn kính

Tìm bạn, đệ tử, hay bạn đời để được thương yêu, chăm sóc, quí trọng. Làm như vậy sẽ làm tổn hại tâm nguyện sống vì người khác.

(22) ngồi không.

vì biếng nhác, dửng dưng, trì trệ, kém vui, không hứng thú làm việc mà nằm nhiều, nghỉ nhiều, không làm việc.  Tự nuông chìu quá đáng sẽ làm hại đến hạnh Tinh tấn.

(23) vì ham vui, phí thì giờ cho việc đọc sách giải trí, xem phim ảnh.

Theo đuổi những việc vô bổ sẽ làm hại đến hạnh Tinh Tấn.

 

Ba việc tạo trở ngại cho hạnh Ðịnh ba la mật

Ðịnh ba la mật (bsam-gtan, Skt. dhyana) là trạng thái tâm thức quân bình, không bị phiền não, kích động [trạo cử], hay trì trệ [hôn trầm] làm chao động. Tu Ðịnh ba la mật cần tránh ba việc làm sau đây:

(24) không truy tìm phương pháp tu để đạt Ðịnh

vì kiêu ngạo, ác ý, biếng nhác hay dửng dưng, không tìm tòi học hỏi về phương pháp tu định (ting-nge-'dzin, Skt. samadhi), như vậy đương nhiên sẽ làm tổn hại hạnh Ðịnh.

(25) không từ bỏ những chướng ngại làm cản trở Ðịnh

Có năm điều ngăn ngại thành tựu về Ðịnh, đó là (a) thả lõng giác quan, (b) nuôi ác ý, (c) tâm mờ mịt trì trệ, (d) tâm kích động hay hối tiếc, (e) tâm nghi hoặc. Dung túng và không cố gắng triệt bỏ năm chướng ngại này sẽ làm trở ngại hạnh Ðịnh. Nếu cố gắng nhưng chưa triệt bỏ được thì không phạm giới.

(26) lấy hỉ lạc của Ðịnh làm mục đích tu hành chính

Khi tu định tâm sẽ từ từ lắng xuống, kinh nghiệm về hỉ lạc sẽ càng lúc càng tăng. Tham đắm trạng thái hỉ lạc này, xem đó là mục tiêu chính của công phu tu Ðịnh là phạm giới này.

 

Tám việc tạo trở ngại cho hạnh Tuệ ba la mật

Tuệ ba la mật (shes-rab, Skt. prajna)  là phần tâm thức có khả năng phân biệt rõ điều gì đúng điều gì sai, điều gì nên làm điều gì nên tránh, vân vân. Tu Tuệ ba la mật, cần tránh tám việc làm sau đây:

(27) chê bai Thanh văn thừa

- Giới bồ tát căn bản thứ 6: cho rằng Thanh văn thừa không phải lời Phật dạy.

- Giới bồ tát căn bản thứ 14: công nhận Thanh văn thừa là chánh pháp, nhưng lại cho Thanh văn thừa không có hiệu quả, không thể dứt tham ái.

- Giới bồ tát căn bản thứ 13: nói với người nhận giới Ba la đề mộc xoa rằng giới này không cần cho bồ tát, khiến người bỏ giới.

- Giới nhẹ thứ 27 ở đây: nghĩ hay nói với người khác rằng bồ tát cần tu theo cũng không cần biết về pháp tu của Thanh văn thừa, nhất là về phần giới luật Ba la đề mộc xoa. Dù không ai làm theo cũng vẫn phạm giới này.

(28) tốn nhiều công sức tu theo Thanh văn thừa, bỏ quên Bồ tát thừa

Ðệ tử nhận Bồ tát giới tu học theo thanh văn thừa đồng thời phải tu học theo bồ tát thừa.

(29) tốn nhiều công sức để tu học ngoại điển

Ngoại điển là môn học không phải Phật pháp, như toán, khoa học, tâm lý học, triết học, hay như học Hán văn, Phạn văn, Tạng văn. Tuy cần học ngoại điển, nhưng phải dành thì giờ để học hỏi và tu hành theo Ðại thừa.

(30) hãnh diện về khả năng tu học ngoại điển của mình

Ngoại điển không thể giúp giải thoát luân hồi, chỉ có thể trợ giúp đường hành đạo. Nếu không phân biệt chính phụ, xem trọng ngoại điển quá đáng sẽ làm hại hạnh Tuệ.

(31) từ bỏ Ðại thừa

- Giới bồ tát căn bản thứ 6: cho rằng Ðại thừa không phải lời Phật dạy.

- Giới nhẹ thứ 31 ở đây: công nhận Ðại thừa là chánh pháp, nhưng chỉ trích một vài phần trong Ðại thừa, nhất là phần nói về những công hạnh phi thường của bồ tát và về phần tánh Không vi diệu ngoài tầm nghĩ bàn.

(32) khen mình, chê người

- Giới căn bản thứ nhất: khen mình chê người vì ham muốn danh lợi thế gian, hay vì ganh ghét

- Giới nhẹ thứ 32 ở đây: khen mình chê người vì kiêu hãnh, tự cao, hay giận dữ, thấy mình cao hơn người.

(33) không đến với Phật Pháp

- Giới căn bản thứ 2: không giảng Pháp vì tham lam hay keo lẫn.

- Giới nhẹ thứ 33 ở đây: không nhận lời thuyết pháp, làm lễ, hay dự lễ, nghe pháp, vì kiêu ngạo, giận dữ, ác ý, biếng nhác hay dửng dưng.

(34) căn cứ trên lời nói của vị đạo sư để chê bai phỉ báng.

Nếu lời giảng đúng đắn, nhưng ngôn ngữ vụng về, không hoàn chỉnh, dựa vào đó để chê bai phỉ báng thầy, sẽ khiến tuệ giác mình bị ngăn ngại.

Mười hai việc tạo trở ngại cho tâm địa vị tha

(35) không giúp người đang cần sự giúp đỡ

vì giận dữ, ác ý, biếng nhác, dửng dưng, không giúp tám loại người cần được giúp đỡ vì (a) đang cần lấy quyết định, (b) đang xa nhà, (c) đang học ngôn ngữ chúng ta biết, (d) đang làm việc không trái với Phật Pháp, (e) đang giữ nhà, chùa, hay tài sản, (f) đang ngăn cản trận tranh cãi, ẩu đả, (g) đang cử hành lễ lạc, (h) đang làm việc từ thiện.

(36) không chăm sóc người bịnh

vì giận dữ, ác ý, biếng nhác hay dửng dưng.

(37) không giúp cho người vơi nhẹ khổ đau

vì giận dữ, ác ý, biếng nhác hay dửng dưng, không giúp người trong khó khăn cần đặc biệt quan tâm. Có bảy loại người gặp khó khăn đặc biệt, đó là (a) người mù, (b) người điếc, (c) người thiếu hụt tứ chi, (d) khách phương xa mệt mỏi, (e) người bị xáo trộn vì năm chướng ngại của Ðịnh, (f) người nhiều ác ý, định kiến, (g) người sa cơ lỡ vận.

(38) không tùy căn cơ giáo hóa kẻ khó giáo hóa

Kẻ khó giáo hóa (bag-meg) là người không tin nhân quả, vì vậy việc làm thường mang lại khổ đau cho đời sau. Nói thẳng với họ điều họ không tin, sẽ không ích lợi gì. Cần phải tùy vào sở thích căn cơ để dần dần giáo hóa.

(39) được người giúp đỡ mà không giúp trả

Nếu không có khả năng giúp trả, hay người kia không muốn được giúp trả, thì không phạm giới.

(40) không làm vơi nhẹ nỗi khổ tâm của người khác

vì ác ý, biếng nhác, hay dửng dưng, không thông cảm, an ủi người khổ tâm vì mất người thân, tiền bạc của cải.

(41) không san sẻ cho người cần được san sẻ

vì giận dữ, ác ý, biếng nhác hay dửng dưng. Nếu vì tham lẫn thì phạm giới căn bản.

(42) không quan tâm đến nhu cầu của người thân quanh mình

vì ác ý, biếng nhác, dửng dưng, không giúp người thân gần như bạn bè, gia đình thân quyến, đồng nghiệp, đệ tử. Không giúp được người thân gần thì làm sao có thể giúp toàn thể chúng sinh?

(43) không tùy thuận sở thích chúng sinh

vì ác ý, biếng nhác, dửng dưng, không tôn trọng và chìu theo sở thích của người khác là phạm giới này, nếu sở thích của người khác không gây hại cho ai.

(44) không khen ngợi tài năng đức hạnh của người khác

vì giận dữ, ác ý, biếng nhác hay dửng dưng, không khen ngợi khuyến khích người khác.

(45) không trách phạt khi cần thiết

vì làm biếng, dửng dưng, hay thiếu quan tâm.

(46) không chịu thi triển thần thông khi cần thiết

trong một số trường hợp đặc biệt, thi triển thần thông có thể giúp được người khác.  Nếu có khả năng nhưng không chịu làm, sẽ làm tổn hại tâm nguyện vị tha.

 

{

 


 

Alexander Berzin. The Secondary Bodhisattva Vows, August 1997, available at http://www.berzinarchives.com/vows/secondary_bodhisattva_pledges.html

 

Hồng Như lược dịch tháng 03 năm 2004

Mọi sai sót là của người dịch, mọi công đức xin hồi hướng pháp giới chúng sinh

 



Monday, April 14, 2008

Kinh Tinh Yếu Cúng Dường Đức Bạt Già Phạm



Kinh Tinh Yếu Cúng Dường Đức Bạt Già Phạm Phật Dược Sư tôn xưng Như Ý Châu


Nghe xưng tụng hồng danh người tạo dòng suối mát,
Biến ngọn hỏa diệm ngục A-Tỳ hóa thành ao sen mát dịu.
Bảy đấng Thiện Thệ, chư vị là chư Hộ Pháp trong thời mạt pháp,
Đệ tử đảnh lễ dưới chân vị giáo chủ dòng Thích Ca.
Người đã bỏ thời gian để hoằng hóa Phật sự lớn nhỏ,
Lợi ích cho đệ tử và chúng sinh có lòng tín tâm vào
Bảy đấng Thiện Thệ của thời mạt pháp mà kinh sách đã kể lại truyện,
Tôi sẽ tóm lược cốt tủy Thọ Thực của Chư Thiên trong Kinh Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư này.


( Vì Đấng Thánh Trí Giác Ngộ Phật đã tuyên dương chắc chắn rằng thần lực và hộ trì của Đức Phật Dược Sư càng mạnh và nhanh chóng hơn trong thời mạt pháp nên chúng ta một lòng tin nhận . Chúng nhân nào muốn hành trì nghi thưc Kinh Tinh Yếu Cúng Dường này để cầu sự hộ trì từ tâm của Bảy Đấng Thiện Thệ Hộ Pháp trong thời mạt pháp, trước hết phải hành trì phần sửa soạn như trong Kinh dạy , rồi hoàn toàn quán tưởng đắm mình trong tâm thức Quy Y và Phát Bồ Đề Tâm, sau đó tụng Kinh như sau )

QUY Y

Cho đến khi đạt đến giác ngộ, đệ tử xin quy y
Tam Bảo : Phật, Pháp và Tăng.
Nương nhờ công đức hạnh bố thí ba la mật và các ba la mật khác,
Đệ tử xin nguyện đạt đến giác ngộ để cứu độ mọi chúng sanh.

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Xin nguyện cho mọi chúng sanh an lành và tạo nhân để được an vui.
Xin nguyện cho mọi chúng sanh giải thoát khỏi khổ đau và tiêu trừ các nhân tạo khổ đau.
Xin nguyện cho mọi chúng sanh không lìa an vui , tức là không phải chịu khổ đau ,
Xin nguyện cho mọi chúng sanh trụ trong hạnh xả , không chấp thủ và sân hận (đối với những chúng sanh) xa gần. (3X)


LỄ CÚNG DƯỜNG PHẬT DƯỢC SƯ

Qua oai lực của chân lý tối thượng của chư Phật và chư Bồ T
át hộ trì,
Và oai lực của hai bộ chúng cùng Pháp giới thanh tịnh,
Với tất cả các hạnh thù thắng của Ta Bà và Niết Bàn, như trong cõi Cực Lạc.
Mặt đất đầy châu báu, trang nghiêm với cây và hồ nước,
Đáy hồ bao phủ bằng vàng ròng, bạc và ngọc trai ,
Mặt đất đầy hoa và trầm hương thơm lừng,
Nhân gian và chư thiên hoan hỷ , nơi nơi tràn ngập phẩm vật cúng dường Phổ Hiền Bồ Tát
Nơi đó , chính giữa cung điện đẹp ngời bằng châu báu,
Chư Phật và chư Bồ Tát ngự trên ngai sư tử.
Xin nguyện cho cung điện tràn đầy biển mây phẩm vật cúng dường,
Hóa sanh từ oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh chư tôn đức hoan hỷ.
Bảy đấng Thiện Thệ là chư Hộ Pháp từ bi của thời mạt pháp,
đức Phật Thích Ca Mâu Ni , Thánh Pháp , chư Bồ Tát, và chư Hộ Pháp,
Xin hộ trì chúng con và mọi chúng sanh , thỉnh chư tôn làm vị Y chỉ và là đấng Hộ Pháp Quy Y,
Xin thị hiện vân tập nơi đây, và ban cho chúng con cảm ứng hộ tr
ì
Là Bổn Sư từ bi vô song, là của dòng Thích,
Văn Thù Sư Lợi , Tịch Hộ và chư Tổ,
Chư vị mang trong tay quyển kinh thâm diệu này,
Đệ tử xin đảnh lễ dòng truyền thừa của chư Bổn Sư.
Trước chư tôn từ bi giải thoát chúng sanh đọa trong nẻo ác,
Bảy đấng Thiện Thệ , đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Thánh Pháp,
Văn Thù Sư Lợi, Kyab Drol, Kim Cang Mật Tích, Phạm Thiên và Đế Thích ,
Và chư Đại Vương cùng chư Dạ Xoa , đệ tử xin đảnh lễ.
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường, hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú , thiền định và nguyện hạnh ,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp, hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp,
Cầu xin, và khấn nguyện, hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Xin chư Bạt Già Phạm từ niệm chúng con !
Và cầu xin bảy đấng Thiện Thệ , như chư vị đã hứa,
Xin cho các nguyện hạnh quá khứ của chư vị thành tựu ,
Trong thời cuối của đức Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế ,
Cầu xin chứng tỏ cho chúng con là đúng như vậy !

Trước đấng Bạt Già Phạm Tam Miệu Tam Bồ Đề Tướng Hảo Quang Minh Rạng Ngời Như Lai , đệ tử quỳ xin đảnh lễ, cúng dường và quy y. ( 1,3,7x)
( Tib: Tsen Leg Pa Yong Drag Pel Gyi Gyel Po, Sarnkrit: Suparikirtitanamashriraja )

Thân kim sắc, tay bắt ấn truyền pháp quy y ,
Thành tựu tám lời nguyện, oai nghi với hai tích lũy rạng ngời ,
Đấng Vinh Quang của Phật quốc Vị Tằng Hữu Đạt ,
Trước đấng Tướng Hảo Quang Minh Rạng Ngời Như Lai , đệ
tử quỳ xin đảnh lễ ,
Thân trang nghiêm mang đầy tướng tốt chính và tịnh khiết ,
Bao quanh bởi nhiều tướng tốt phụ , thân người thật đẹp ,
Chúng sanh nào thấy , nghe và nghĩ về người liền được quang vinh.

Trước đấng Tướng Hảo Quang Minh Rạng Ngời Như Lai , đệ
tử quỳ xin đảnh lễ ,
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng ,
Qua oai lực của thần chú , thiền định và nguyện hạnh ,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp ,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Nhờ oai lực công đức nghe hồng danh của đấng Chiến Thắng ,
Tụng hồng danh , nghĩ nhớ , đảnh lễ và cúng dường ,
Xin nguyện cho mọi chúng sanh như chúng con được giải thoát ,
ra khỏi bệnh dịch , hành hình , tội ác , ma quỷ ,
Thọ thân người đầy đủ cảm quan , khổ đau và ác nghiệp tiêu trừ ,
Không đọa trong nẻo ác , chứng được an vui của cõi nhân thiên ,
Không bị ám bởi đói khát , ngoè khổ , xin nguyện cho được giàu có ,
Không bị hành hạ thân như bị trói và đánh đập ,
Không bị nạn hổ , sư tử và rắn , mọi tranh chấp được an hòa ,
Sinh lòng từ bi , tránh khỏi tai nạn nước cuốn sợ hãi ,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp ,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Nhờ oai lực công đức nghe hồng danh của đấng Chiến Thắng ,
Tụng hồng danh , nghĩ nhớ , đảnh lễ và cúng dường ,
Xin nguyện cho mọi chúng sanh như chúng con,
Thoát khỏi cõi lãng quên và phát triển Phật Pháp,
Đắc được tài vật của cõi nhân thiên ,
Không bị hành hạ trong vọng niệm, luôn tái sanh trong thân người,
Không bao giờ xa lìa Bồ Đề Tâm , tăng trưởng thêm thiện căn Chánh Pháp
Tịnh hóa các sự tăm tốiva2 đạt an vui của cõi nhân thiên >
Xin nguyện chúng con không bị chia lìa ra khỏi đức Bổn Sư ,
Không đọa trong thời mạt pháp, hay bị ma quỷ hãm hại, không bị lọt vào nơi nguy hiểm cách ly. Xin nguyện cho chúng sanh thấp kém đạt đến thiền định, tỉnh thức , dũng lực. Đạt thần chú Đà La Ni Bất Khả Vong , đạt trí tuệ tối thượng,
Xin dập tắt các ngọn lửa hành hạ chúng con.
Và khi chúng con lìa đời,
Xin nguyện vãng sanh về cõi Phật của người, trong đóa hoa sen , đầy đủ hạnh nguyện, và để trở thành cỗ xe hoằng hóa Giáo Pháp của chư Chiến Thắng Vương  tôn xưng là đấng Diệu Âm Vương Như Lai ,
và như thế làm cho người hoan hỷ.
Xin nguyện cho chúng con trụ trong an lạc vô úy. Và khi chúng con lìa đời ,
Xin nguyện vãng sanh về cõi Phật của người ,
trong đóa hoa sen đầy đủ hạnh nguyện , và để trở thành cỗ xe hoằng hóa
Giáo Pháp của chư Chiến Thắng Vương tôn xưng là đấng Tướng Hảo
Quang Minh Phổ Hiện Như Lai và như thế , làm cho người hoan hỷ.

Trước đấng Bạt Già Phạm Tam Miệu Tam Bồ Đề, Tôn Quý Diệu Âm Quang Minh Năng Như Lai , đệ tử quỳ xin đảnh lễ, cúng dường và quy y. ( 1,3,7x )
( Tib: Rinpoche Dang Daa Dang Peme Rab Tu Gyen Pa
Kepa Ziji Dra Yang Gyi Gyelpo , Sanskrit: Svaragosharaja )

Thân hoàng sắc, tay bắt ấn ban truyền tối thượng ,
Thành tựu tám lời nguyện, oai nghi với hai tích lũy rạng ngời,
Đấng Vinh Quang của Phật quốc Châu Bảo Trang Nghiêm ,
Đệ tử quỳ xin đảnh lễ dưới chân đức Bảo Nguyệt Như Lai.
Trang nghiêm tuyệt đẹp với mặt trăng châu báu và hoa sen.
Tuệ năng toàn trí bao trùm tỏ rõ tất cả sự vật nhận biết,
Tâm thức người sâu thẳm như biển lớn.
Trước đấng Diệu Âm Vương Như Lai , đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh ,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp ,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Nhờ oai lực công đức nghe hồng danh của đấng Chiến Thắng ,
Tụng hồng danh , nghĩ nhớ , đảnh lễ và cúng dường ,
Xin nguyện cho mọi chúng sanh như chúng con ,
Thoát khỏi cõi lãng quên và phát triển Phật Pháp,
Đắc được tài vật của cõi nhân thiên ,
Không bị hành hạ trong vọng niệm, luôn tái sanh trong thân người,
Không bao giờ xa lìa Bồ Đề Tâm , tăng trưởng thêm thiện căn Chánh Pháp
Tịnh hóa các sự tăm tối và đạt an vui của cõi nhân thiên
Xin nguyện chúng con không bị chia lìa ra khỏi đức Bổn Sư ,
Không đọa trong thời mạt pháp, hay bị ma quỷ hãm hại, không bị lọt vào nơi nguy hiểm cách ly. Xin nguyện cho chúng sanh thấp kém đạt đến thiền định, tỉnh thức , dũng lực. Đạt thần chú Đà La Ni Bất Khả Vong , đạt trí tuệ tối thượng,
Xin dập tắt các ngọn lửa hành hạ chúng con.
Và khi chúng con lìa đời,
Xin nguyện vãng sanh về cõi Phật của người, trong đóa hoa sen , đầy đủ hạnh nguyện, và để trở thành cỗ xe hoằng hóa Giáo Pháp của chư Chiến Thắng Vương  tôn xưng là đấng Diệu Âm Vương Như Lai , và như thế làm cho người hoan hỷ.

Trước đấng Bạt Già Phạm Tam Miệu Tam Bồ Đề, Tịnh Khiết Thượng Kim Vương , Bảo Quang Như Ý Châu Như Lai , đệ tử quỳ xin đảnh lễ, cúng dường và quy y. ( 1,3,7x )
( Tib: Sẻ Zang Dri Me Rin Chen Nang Tul Zhug Drub Pa
Sanskrit: Suvarnabhadradravimala )

Thân kim sắc như vàng của cõi Diêm Phù Đề, tay bắt ấn thuyết pháp,
Thành tựu bốn lời nguyện, oai nghi với hai tích lũy rạng ngời,
Đấng Vinh Quang của Phật Quốc Chiên Đàn Trang Nghiêm ,
Trươc đấng Tịnh Quang Thượng Kim Như Lai , đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Tối thượng kim như là vàng của Diêm Phù Đề Giang ,
Chói rạng , tỏa sáng hơn cả nghìn mặt trời.
Thân như bảo tháp bằng vàng vô cấu ,
Trươc đấng Tịnh Quang Thượng Kim Như Lai , đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Nhờ oai lực công đức nghe hồng danh của đấng Chiến Thắng ,
Tụng hồng danh , nghĩ nhớ , đảnh lễ và cúng dường ,
Xin nguyện cho mọi chúng sanh như chúng con ,
Các chúng sanh yếu mạng đều được sống lâu , kẻ ngoè khó được tiền của,
Xin cho người hiếu chiến phát lòng từ bi. Xin cho chúng con được tu học và không đọa các nẻo ác,
Và cho chúng con giử trọn giới nguyện, không xa lìa Bồ Đề Tâm.
Và khi chúng con lìa đời,
Xin nguyện vãng sanh về cõi Phật của người, trong đóa hoa sen , đầy đủ hạnh nguyện,
Và để trở thành cỗ xe hoằng hóa Giáo Pháp của chư Chiến Thắng Vương 
tôn xưng là đấng Phổ Quang Thượng Kim Vô Nhiễm Như Lai và như thế , làm cho người hoan hỷ.

Trước đấng Bạt Già Phạm Tam Miệu Tam Bồ Đề, Tối Thượng Quang Minh Giải Thoát Muôn Khổ Nạn Vương Như Lai , đệ tử quỳ xin đảnh lễ, cúng dường và quy y. ( 1,3,7x )
( Tib: Nya Nghen Me Chog Pel   Sanskrit: Ashokottamashriraja )

Thân hồng sắc, tay bắt ấn thiền định hài
hòa,
Thành tựu bốn lời nguyện, oai nghi với hai tích lũy rạng ngời,
Đấng Vinh Quang của Phật quốc Vô Não,
Trước đấng Tối Thượng Quang Minh Giải Thoát Muôn Khổ Nạn Vương Như Lai, đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Siêu Việt lên trên phiền não, đạt đến Cực Lạc,
An hòa tam độc và khổ đau của muôn chúng sanh ,
Đấng Hộ Pháp của lục đạo luân hồi, trước đấng Vinh Quang ,
Tối Thượng Quang Minh Giải Thoát Muôn Khổ Nạn Vương Như Lai ,
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Nhờ oai lực công đức nghe hồng danh của đấng Chiến Thắng ,
Tụng hồng danh , nghĩ nhớ , đảnh lễ và cúng dường ,
Xin nguyện cho mọi chúng sanh như chúng con ,
Phiền não và những thứ như thế được an hòa, sống lâu và an lạc.
Xin ánh sáng của đấng Chiến Thắng tăng trưởng an lạc và ban hoan hỷ tâm cho các tầng địa ngục.
Xin cho chúng con tươi sáng, đẹp đẽ và giàu có, không bị ma quỷ làm hại.
Xin nguyện cho chúng con phát triển lòng từ bi đối với nhau và mọi bệnh tật tiêu tan.
Và khi chúng con lìa đời,
Xin nguyện vãng sanh về cõi Phật của người, trong đóa hoa sen , đầy đủ hạnh nguyện,
Và để trở thành cỗ xe hoằng hóa Giáo Pháp của chư Chiến Thắng Vương 
tôn xưng là đấng Tối
Thượng Quang Minh Giải Thoát Muôn Khổ Nạn Vương Như Lai và như thế , làm cho người hoan hỷ.

Trước đấng Bạt Già Phạm Tam Miệu Tam Bồ Đề, Tuyên Pháp Hải Diệu Âm Như Lai, đệ tử quỳ xin đảnh lễ, cúng dường và quy y. ( 1,3,7x )
( Tib: Cho Drag Gya Tso Yang, Sanskrit: Dharmakirtisagara )

Thân hồng bạch sắc, tay bắt ấn thuyết pháp,
Thành tựu bốn lời nguyện, oai nghi với hai tích lũy rạng ngời,
Đấng Vinh Quang của Phật Quốc  Tràng Thắng Phan Pháp,
Trước đấng Tuyên Pháp
Hải Diệu Âm Như Lai, đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Diệu Pháp Âm chiến thắng tất cả kẻ địch,
Với diệu âm sâu thẳm như đại dương,
An hòa khổ đau của tất cả các chúng sanh không ngoại lệ.
Trước đấng Tuyên Pháp Hải Diệu Âm Như Lai, đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Nhờ oai lực công đức nghe hồng danh của đấng Chiến Thắng ,
Tụng hồng danh , nghĩ nhớ , đảnh lễ và cúng dường ,
Xin nguyện cho mọi chúng sanh như chúng con ,
Luôn luôn có chánh kiến và tín tâm,
Nghe được pháp âm, tăng trưởng thêm Bồ Đề Tâm,
Để có thêm nhiều tiềm năng, xin cho chúng con từ bỏ ác nghiệp, và xin tăng trưởng của cải,
Xin cho chúng con trụ trong từ bi, sống thọ và được an vui.
Và khi chúng con lìa đời,
Xin nguyện vãng sanh về cõi Phật của người, trong đóa hoa sen , đầy đủ hạnh nguyện,
Và để trở thành cỗ xe hoằng hóa Giáo Pháp của chư Chiến Thắng Vương 
tôn xưng là đấng Tuyên Pháp Hải Diệu Âm Như Lai, và như thế , làm cho người hoan hỷ.

Trước đấng Bạt Già Phạm Tam Miệu Tam Bồ Đề, Tịnh Quang Vương Như Lai, Đấng Toàn Hỷ trụ trong Tối Thượng Trí Tuệ của Pháp Hải, đệ tử quỳ xin đảnh lễ, cúng dường và quy y. ( 1,3,7x )
( Tib: Cho Gya Tsa Chog Gi Lo Nam Par Rol Pa Ngon Par Kyen Pay Gyel Po, Sankrit: Abhiyaraja )

Thân hồng sắc san hô, tay bắt ấn ban truyền tối thượng,
Thành tựu bốn lời nguyện, oai nghi với hai tích lũy rạng ngời,
Đấng Vinh Quang của Phật Quốc Châu Bảo Hải,
Trước đấng Tối Thượng Trí Tuệ Vương Như Lai, đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Tâm thức người quán triệt Pháp trí sâu thẳm khó đo lường,
Hoan hỷ trong vũ trụ thuần chân lý,
Người tri kiến thẳng vào tất cả sự vật nhận biết,
Trước đấng Tối Thượng Trí Tuệ Vương Như Lai, đệ tử quỳ xin đảnh lễ,
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Nhờ oai lực công đức nghe hồng danh của đấng Chiến Thắng ,
Tụng hồng danh , nghĩ nhớ , đảnh lễ và cúng dường ,
Xin nguyện cho mọi chúng sanh như chúng con ,
Và cho người đãng trí thoát khỏi ác tâm, giàu có của cải,
Xin cho những người đi trên ác đạo, đọa nẻo dữ, hành trì được thập thiện,
Xin cho người bị kiềm chế thoat ra và đạt được tự do toàn hảo,
Và mọi chúng sanh sống thọ, nghe được hồng danh người và tạo nhân lành.
Và khi chúng con lìa đời, xin nguyện vãng sanh về cõi Phật của người, trong đóa hoa sen , đầy đủ hạnh nguyện,
Và để trở thành cỗ xe hoằng hóa Giáo Pháp của chư Chiến Thắng Vương 
tôn xưng là đấng Tối Thượng Trí Tuệ Vương Như Lai, và như thế , làm cho người hoan hỷ.

Trước đấng Bạt Già Phạm Tam Miệu Tam Bồ Đề, Minh Vương Bảo Quang Lưu Ly Châu Như Lai, đệ tử quỳ xin đảnh lđc, cúng dường và quy y. ( 1,3,7x )
( Tib: Men Gyi La Ben Dủ Yay OKyi Gyel Po , Sanskrit: Bhaisayaguru )

Thân lam sắc, tay bắt ấn ban truyền tối thượng,
Thành tựu bốn lời nguyện, oai nghi với hai tích lũy rạng ngời,
Đấng Vinh Quang của Phật Quốc Lưu Ly Quang,
Trước dấng Y Vương Như Lai, đệ tử quỳ xin đảnh lễ,
Đấng Bạt Già Phạm với lòng từ bi phổ độ khắp chúng sanh,
Khi nghe hồng danh của người, mọi khổ đau ba nẻo ác đều tiêu tan,
Xua tan mọi bệnh tật và tam độc,
Trước đấng Dược Vương Quang Như Lai, đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Nhờ oai lực công đức nghe hồng danh của đấng Chiến Thắng ,
Tụng hồng danh , nghĩ nhớ , đảnh lễ và cúng dường ,
Xin nguyện cho mọi chúng sanh như chúng con ,
Đều được trang nghiêm với các dấu hiệu và tướng quý,
Xin cho ánh sáng xua tan niềm tăm tối và xin cho niềm hoan hỷ của trí tuệ và các phương tiện thiện xảo không bao giờ dứt,
Xin cho kẻ bị lôi cuốn vào nẻo si và thấp kém được vào trong cửa đạo của Đại Thừa và tâm thức rực rỡ với các hạnh nguyện.
Xin cho chúng con thoát khỏi khổ đau gây ra do phạm giới, xin được có đầy đủ cảm quan, không bệnh tật và của cải dồi dạo
Xin cho kẻ bị mất tín tâm vì yếu đuối luôn có được các cảm quan mạnh mẽ.
Xin cho chúng con thoát khỏi tròng của Ma Vương và các si kiến.
Xin cho kẻ bị vua hành hạ đạt đến an lạc.
Còn những kẻ vì đói khát mà làm những tội ác,
Xin cho họ được no đủ cơm ăn lương thiện theo giáo Pháp.
Xin cho gian khổ vì nóng và lạnh được an hòa,
Và các nguyện ước lành được thành tựu,
Trong sự hành trì giới hạnh làm hoan hỷ chư Hiền Thánh, xin cho chúng con được giải thóat.
Và khi chúng con lìa đời, xin nguyện vãng sanh về cõi Phật của người, trong đóa hoa sen , đầy đủ hạnh nguyện,
Và để trở thành cỗ xe hoằng hóa Giáo Pháp của chư Chiến Thắng Vương 
tôn xưng là đấng Y Vương Như Lai, và như thế, làm cho người hoan hỷ.

Trước đấng Giáo Chủ Bạt Già Phạm Tam Miệu Tam Bồ Đề, Chiến Thắng Vương Thích Ca Như Lai , đệ tử quỳ xin đảnh lễ, cúng dường và quy y. ( 1,3,7x )
( Tib: Pel Gyel Wa Sha Kya Tup Pa )

Thân kim sắc tay bắt ấn chi địa,
Qua thần lực của đại bi vô song và đại tinh tấn,
Người đã đạt Vinh Quang Vô Úy Thế Gian.
Ôi , trước đấng Thượng Sư Như Lai , Giáo chủ dòng Thích Ca , đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Hạ sanh trong dòng Thích vì muốn sử dụng phương tiện thiện xảo và từ bi ,
Thế Tôn , bậc chiến thắng Ma Vương ,
Thân oai nghi như núi Tu Di bằng vàng,
Trước đấng Thích Vương Như Lai , đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Cầu xin hộ trì cho chúng con và những kẻ không có Hộ Pháp,
Để xin cho chúng con nhận ngay bây giờ và không ngoại lệ ,
Lợi ích của giáo pháp bởi đấng Tối Thượng Sư ,
Trong hành trì nghi lễ kinh Dược Sư Phật rộng lớn,
Là tối thượng đăng , xua tan tăm tối của si mê,
Thuốc cực lành chữa khỏi mọi khổ đau và bệnh tật.
Trước toàn Pháp Bảo siêu việt ,
Đệ tử quỳ xin đảnh lễ, cúng dường và quy y. ( 1,3,7x ).
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.
Nhờ oai lực hộ trì của Thánh Pháp Bảo chân lý,
Xin nguyện cho chúng con và các chúng sanh , ngay từ giờ, trong tất cả các kiếp,
Hành trì tất cả giáo lý của chư Phật, trong toàn bộ ,
Đúng như chư Phật đã mong chờ,
Hạnh nguyện tim óc của chư Chiến Thắng đã được đưa ra bởi ,
Ba mươi sáu ngàn đệ tử của chư Thiện Thệ,
Gồm chư Văn Thù Sư Lợi , Kyab Drol, Kim Cang Mật Tích, khi được thỉnh cầu,
Chư vị đã tuyên pháp lợi ích của bài Kinh này, và tất cả các điều đó.
Cầu xin chư vị thị hiện ngay bây giờ và tại đây.
Và cả chư vị Hộ Pháp-Dạ Xoa Trưởng,
Như là chư vị đã hứa trước chư Tôn Sư quá khứ,
Ngăn chặn kẻ địch, giết hại và dịch tể,
An hòa mọi tranh chấp và tăng trưởng an lạc thể xác và tinh thần ,
Gia tăng của cải, năng lực , tiền tài, mùa màng và thọ mạng,
Thành tựu các mục đích như nguyện ước,
Và luôn che chở chúng con không bao giờ ngừng.

Om na mo bha ga wa tè bè kan dzè ya gu ru bè du rya tra bha ra dza ya    ta ta ga ta ya    a ra ha tè sam  yak sam bu dha ya
ta ya ta Om bè kan dzè bè kan dzè   ma ha bè kan dzè ra dza sa mud ga tè soha

Ta ya ta   Om bè kan dzè bè kan dzè    ma ha bè kan dzè ra dza sa mud ga tè soha

Đấng Bổn Sư từ bi vô song,
Vua trong dòng Thích, Văn Thù, Tịch Hộ và còn nữa,
Tay cầm Kinh thja6m diệu này,
Trước dòng truyền thừa chư tổ Bổn Sư, đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Trước đấng từ bi giải thoát chúng sanh đọa ác đạo,
Bảy đấng Thiện Thệ, Phật Thích Ca Mâu Ni và Thánh Pháp,
Văn Thù, Kyab Drol, Kim Cang Mật Tích, Phạm Thiên và Đế Thích,
Và chư Maharajas cùng Dạ Xoa, đệ tử quỳ xin đảnh lễ.
Đệ tử tích tụ các phẩm vật cúng dường , hiện bày và quán tưởng,
Qua oai lực của thần chú, thiền định và nguyện hạnh,
Sám hối các điều phạm giới và các ác nghiệp , hoan hỷ tất cả các thiện nghiệp,
Cầu xin , khấn nguyện , hồi hướng các công đức để đạt giác ngộ tối thượng.

KỆ DÂNG LỄ TẮM PHẬT

( Quán tưởng ) đền tắm Phật rất thơm tho,
sàn nhà dạ quang và bằng pha lê lộng lẫy,
cột nhà tuyệt đẹp, chói rực châu báu,
màn phướn bằng ngọc trai sáng tỏa rang.
Lúc Phật đản sanh,
chư Thiên xin dâng lễ tắm Phật tịnh khiết,
bằng nước lấy từ cõi thiên, và cũng như thế, đệ tử xin dâng lễ
tắm.

Om sar wa ta tha ga ta ah bhi kè ka ta sa ma ya shri yè ah hung

Thân người làm bằng mười triệu đức hạnh tối thượng và công đức,
Khẩu, lời nói của người thành tựu các kỳ vọng của vô lượng chúng sanh,
Ý của người tri kiến bản tánh chân thật mọi sự vật nhận thức, không ngoại lệ.
Trước đấng giáo chủ dòng Thích Ca, đệ tử xin dâng lễ tắm.

Om sar wa ta tha ga ta ah bhi kè ka ta sa ma ya shri yè ah hung

Trước đấng thiện thệ từ bi Kim Cang Trì,
Tri kiến tối thượng, Tilopa và Naropa,
Bậc vinh quang tối thưỡng Dombipa và Atisha,
Trước dòng truyền thừa hành trì và hộ trì, đệ tử xin dâng lễ tắm. 

Om sar wa ta tha ga ta ah bhi kè ka ta sa ma ya shri yè ah hung

Trước đức Di Lặc, Vô Trước, Thế Thân, Vimuktisena,
Paramasena, Vinitasena, Shantarakshita, Haribhadra,
Đại Kusali, Tiểu Kusali và Suvarnadvipa,
Trước dòng truyền thừa Phổ Đại Trì Giới, đệ tử xin dâng lễ tắm.

Om sar wa ta tha ga ta ah bhi kè ka ta sa ma ya shri yè ah hung

Trước đức Văn Thù, Long Thọ, phá tà hiển chánh trong Có và Không,
Trước tổ Nguyệt Xứng, Đại Vidyakokila,
và chư hiền thánh Tổ đã bảo tồn ý chỉ chư Phật,
Trước dòng truyền thừa Tri Kiến Thâm Diệu, đệ tử xin dâng lễ tắm.

Om sar wa ta tha ga ta ah bhi kè ka ta sa ma ya shri yè ah hung

Trước tổ Atisha, bậc sư tối thượng về giáo lý truyền khẩu và các pháp môn hành trì,
Trước Dromtonpa, vị tổ giáo lý dòng Kadam,
Trước ba vị huynh đệ, bậc sư của bốn phái du già,
Trước toàn chư tổ bổn sư dòng Kadam, đệ tử xin dâng lễ tắm.

Om sar wa ta tha ga ta ah bhi kè ka ta sa ma ya shri yè ah hung

Trước tổ Tống Lạt Ba, người đã tái tạo truyền thống Mật thừa tại Tây Tạng,
Trước bậc tôn kính Gyeltshap, biện chứng pháp vương đầy uy lực,
Trước bậc tôn kính Khedrup, bậc sư của các giáo lý hiển và mật tông,
Trước dòng truyền thừa ( liên tục ) chư thầy tổ, đệ tử xin dâng lễ tắm.

Om sar wa ta tha ga ta ah bhi kè ka ta sa ma ya shri yè ah hung
Đệ tử dâng lễ tắm lên chư vị Bổn Sư dòng truyền thừa,
Đệ tử dâng lễ tắm lên chư vị Hộ Phật,
Đệ tử dâng lễ tắm lên c